Những góc nhìn của doanh nghiệp FDI khi thực hiện tuân thủ luật định về chống chuyển giá của cơ quan Thuế Việt Nam

Kết quả hình ảnh cho goc nhin ve chuyen gia cua doanh nghiep fdi  Thời gian gần đây dư luận xã hội đề cập nhiều đến vấn đề chuyển giá của một số doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Trong nội dung về chuyển giá các tác giả cũng đề cập nhiều đến việc thất thu ngân sách, tăng cường quản lý Nhà nước, tăng cường các quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần phải đặt lại vấn đề ở phía các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam họ nghĩ gì, vướng mắc, lo ngại gì để cho chúng ta có được cái nhìn từ hai phía. Qua khảo sát và làm việc với các Doanh nghiệp FDI chúng tôi đúc kết được một số nội dung sau:

 

Thứ nhất: Khái niệm về chuyển giá còn mới so với người Việt Nam nhưng không mới đối với các Nhà quản trị Nước ngoài trong doanh nghiệp FDI. Hiện tại văn bản Pháp luật cho việc chống chuyển giá là thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 có hiệu lực sau 45 ngày nhưng không được tuyên truyền và triển khai đồng bộ, chưa đủ mạnh và thiếu sự chế tài khi không nộp báo cáo Thông tin về giao dịch liên kết nên các doanh nghiệp FDI vẫn có thái độ trông chờ, hoài nghi cho sự thành công của Thông tư.

Thứ hai: Các Doanh nghiệp vào ngày 31 tháng 3 hàng năm phải hoàn thành nhiều báo cáo cho Cơ quan Nhà Nước nên phải nộp báo cáo Thông tin về giao dịch liên kết cho cơ quan thuế vào ngày 31 tháng 3 là quá tải đối với bộ phận Kế toán. Theo thống kê việc làm hồ sơ cho một báo cáo giao dịch liên kết đầy đủ theo thông tư 66 không dưới 50 trang giấy A4 đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, 100 trang đối với doanh nghiệp trung bình và các doanh nghiệp lớn có thể hơn 200 trang. Mặt khác, trong thời gian 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm các doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam có nhiều kỳ nghỉ lễ như: Tết tây, Tết nguyên đán, Quốc tế phụ nữ, Giỗ tổ Hùng Vương, Rằm tháng giêng…

Thứ ba: Trong nền kinh tế mở, cạnh tranh ngày càng nhiều, mỗi doanh nghiệp có chiến lược sản phẩm, chiến lược Maketing dài hạn hơn. Trong quản trị doanh nghiệp cũng có nhiều rủi ro cao hơn nên sự khác biệt trọng yếu về thông tin so sánh, điều chỉnh tăng, giảm 1% đơn giá sản phẩm hoặc ít nhất 0,5% trên tỷ suất lợi nhuận gộp, hay tỷ suất sinh lời là chưa phù hợp, cần nới rộng biên độ này hơn.

Thứ tư: Doanh nghiệp FDI hiểu rằng chuyển giá không phải là một hành vi trốn thuế mà là tối ưu hóa chi phí thuế TNDN, nếu nước nào có thuế suất thuế TNDN thấp thì họ sẽ chuyển lợi nhuận về nước đó. Ở một số nước như Mỹ, Úc, Đức… sinh viên được giảng dạy về chuyển giá thông qua việc tìm hiểu lỗ hỗng ở trong chính sách thuế của mỗi Quốc gia. Do vậy, nếu Việt Nam ban hành các quy định về chuyển giá thì khi doanh nghiệp FDI bị phát hiện lần đầu chỉ nên truy thu thuế và không bị xử phạt, trường hợp doanh nghiệp FDI vi phạm lần thứ 2 trở lên thì mới áp dụng khung hình phạt.

Thứ năm: Doanh nghiệp FDI cho rằng hiện tại bàn về vấn đề chuyển giá ở Việt Nam còn quá nhiều việc cần phải làm từ phía cơ quan quản lý Thuế, còn về phía doanh nghiệp FDI cần một sự định hướng từ phía cơ quan Nhà Nước để làm thước đo cho sự ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Ở một số quốc gia trong thời kỳ đầu áp dụng chống chuyển giá cơ quan Thuế công bố lãi hoặc lãi gộp trên doanh thu một số ngành nghề trong nền kinh tế để làm thước đo chung cho các Doanh nghiệp trong điều kiện hoạt động bình thường từ 5 năm trở lên. Cụ thể, cơ quan Thuế lấy sức tăng năm trước của nền kinh tế được Chính phủ công bố cộng trừ (+/-) 10% đến 20% cho dung sai điều chỉnh trong chuyển giá. Đây cũng là mong muốn của nhiều doanh nghiệp FDI, làm được điều này sẽ tạo một động lực vô hình rất lớn trong việc thu ngân sách và tiết kiệm chi phí nhân sự của Nhà nước trong hoạt động chống chuyển giá.

Hiện Cơ quan thuế Việt Nam chưa có một thông điệp rõ ràng theo nội dung đề cập ở trên nên các Doanh nghiệp FDI đã có hoạt động chuyển giá trước, trong và sau khi Thông tư 66 ra đời thì việc bị truy thu thuế sẽ là điều đáng lo ngại vì không đủ khả năng nộp thuế và đe dọa đến sự hoạt động lên tục của Doanh nghiệp tại Việt Nam.

Thứ 6: Các doanh nghiệp FDI đang thể hiện nguyện vọng trông chờ Nhà Nước Việt Nam tổ chức một Cơ quan trung gian có đủ uy tín, kinh nghiệm để giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp FDI và Cơ quan Thuế khi có sự tranh cãi về chuyển giá.

Thứ 7: Doanh nghiệp FDI cho rằng việc triển khai chậm trễ và không toàn diện Thông tư 66 tạo ra sự không công bằng và tâm lý lo lắng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Hay nói cách khác là “Hên và Xui” trong kinh doanh tại Việt Nam.

Thứ 8: Một cách tự nhiên đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có lợi nhuận. Trong quản trị doanh nghiệp, có thể coi thuế TNDN là một loại chi phí, các doanh nghiệp FDI luôn lo sợ một rủi ro tiềm tàng là việc xác định chi phí hợp lệ để được chiết trừ trước khi chịu thuế TNDN tại Việt Nam còn nhiều khắc khe, mang tính chất chứng từ hành chính. Đồng thời có quá nhiều văn bản hướng dẫn cho một thông tư thuế TNDN, tạo cho người thọ thuế và người thu thuế có nhiều quan điểm khác nhau. Do vậy, các doanh nghiệp FDI luôn tính toán ước lượng cho rủi ro tiềm tàng này và tìm cách giảm thiểu nó xảy ra, tốt nhất là để lợi nhuận ở Việt Nam càng ít càng tốt, càng lỗ càng bớt lo.

Võ Phan Sử - Giám đốc

Công ty TNHH Kiểm toán AS